Quy trình xử lý bùn thải thủy sản thành phân hữu cơ ứng dụng làm giá thể trồng hoa cây kiểng

Quy trình công nghệ Quy trình xử lý bùn thải thủy sản thành phân hữu cơ ứng dụng làm giá thể trồng hoa cây kiểng Composting technology for aquaculture sludge to produce organic substrate for ornamental plants
Liên hệ KS. Nguyễn Ngọc Phi, điện thoại 0903552752, Tổ CNSH Môi trường, Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM Eng. Nguyen Ngoc Phi, phone number 0903552752, Division of Environmental Biotechnology, Biotechnology Center of Ho Chi Minh City
Mục đích Sử dụng phương pháp ủ xử lý đồng thời bùn thải thủy sản và phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ nhằm tạo ra sản phẩm giá thể trồng hoa cây kiểng, giúp tiết kiệm chi phí xử lý bùn thải phát sinh từ các khu công nghiệp chế biến thủy sản thay vì đem đi chôn lấp như hiện nay. By using co-compost method for aquaculture sludge and agricultural waste to produce organic substrate for ornamental plants, it will help seafood processing industrial park save money for sludge treatment in comparison to landfill method as before.
Tiềm năng – Quy trình công nghệ đơn giản, dễ thực hiện, rẻ tiền, dễ nhân rộng quy mô.

– Bùn thải thủy sản có đặc tính giàu chất dinh dưỡng và ít chất độc hại hơn nhiều khi so với các loại bùn thải công nghiệp khác, do vậy nếu được ổn định sinh học bằng phương pháp ủ xử lý thì khi ứng dụng làm phân bón cho cây kiểng sẽ cho hiệu quả cao và an toàn cho người sử dụng.

– Việc tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp (phân chuồng, phân gia cầm, xơ dừa…) để ủ xử lý cùng với bùn thải thủy sản, góp phần tạo ra sản phẩm phân hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng đa dạng, khả năng giữ ẩm cao và cùng lúc chuyển hóa được các loại chất thải khác nhau thành phân hữu cơ, góp phần trả về đất chất dinh dưỡng bị mất từ quá trình canh tác.

– Về lâu dài, việc tận dụng bùn thải thủy sản để làm phân bón cho canh tác nông nghiệp là hoàn toàn phù hợp với chiến lược phát triển nền nông nghiệp carbon thấp, giảm thiểu phát sinh khí gây hiệu ứng nhà kính, phù hợp với định hướng phát triển của chương trình Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020

– The technology is designed to be simple, easy to use, low-cost and scalable.

– Aquaculture sludge has high organic matter and less toxicity compared to other industrial sludges. After stabilization by microbial composting method, this biosolid is ready to be used as organic substrate for ornamental plants and safety for the customer.

– Various sources of green wastes (cow dung, poultry manure, coconut coir…) is required for the co-compost method with sludge. It helps create a good compost characterized with diversity of elements and better moisture retention. Thereby, this technology has multiple targets in transforming organic wastes to organic matter and return nutrients to the farming land.

– In long term, using aquaculture sludge compost for cultivation perfectly fits to the strategy of low carbon development for agriculture, reducing greenhouse gases (GHGs) emissions, well matching with the New rural building program for 2016-2020.


Kết quả nghiên cứu được đăng tóm tắt trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Các chất ô nhiễm độc hại trong thực phẩm và môi trường: Kiểm soát chất lượng và công nghệ xử lý 2018”

Đánh giá ảnh hưởng của phân ủ từ bùn thải nhà máy xử lý nước thải khu chế biến thủy sản đến sự sinh trưởng và phát triển của cây dương xỉ

Nguyễn Ngọc Phi1*, Nguyễn Minh Khánh, Ka Hinh2, Nguyễn Thị Hạnh Nguyên1, Vũ Thùy Dương1, Nguyễn Tấn Đức1

1Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố Hồ Chí Minh

2Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Email: nguyenngocphi140589@gmail.com

Bùn thải phát sinh trong quá trình xử lý nước thải tại các khu chế biến thủy sản có hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng không thích hợp làm phân bón trực tiếp cho cây trồng vì chưa qua quá trình ổn định sinh học bằng phương pháp ủ compost. Kết quả phân tích chất lượng bùn thải thủy sản ở các chỉ tiêu vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng và độc tố (PAHs, PCBs) cho thấy nguồn nguyên liệu này an toàn khi được sử dụng để ủ xử lý thành phân hữu cơ. Nghiên cứu này thực hiện ủ quy mô pilot 2 tấn bùn thải thủy sản được phối trộn với xơ dừa và phân bò theo tỷ lệ thể tích 5:3:2 sử dụng chế phẩm BIMA® Trichoderma spp. kết hợp với Bacillus subtilisStreptomyces spp. ở liều lượng 4 kg/tấn nguyên liệu trong thời gian 45 ngày, đảo trộn định kỳ 14 ngày/lần. Các thông số hóa lý quá trình như C, N, pH, nhiệt độ, ẩm độ được theo dõi định kỳ. Kết quả phân tích chất lượng phân ủ cho thấy carbon (dạng nguyên tố) 5,48%, nitơ tổng số 0,4%, P2O5 hữu hiệu 0,63%, K2O hữu hiệu 0,18%, vi sinh vật gây bệnh (E. coliSalmonella) và kim loại nặng (As, Pb, Cd, Hg) đạt yêu cầu theo Thông tư số 41/2014/TT-BNNPTNT. Khi đánh giá ảnh hưởng của phân ủ từ bùn thải thủy sản trên đối tượng cây dương xỉ ở điều kiện chậu vại với tỷ lệ bổ sung theo thể tích từ 10%, 30%, 50% và 100% cho thấy không có sự khác biệt đáng kể so với công thức đối chứng sử dụng giá thể đất sạch thông thường. Cảm quan về màu sắc lá và đường kính tán cho thấy dương xỉ vẫn phát triển tốt ở công thức dùng 100% phân ủ từ bùn thải thủy sản sau 2 tháng theo dõi. Kết quả này mở ra hướng ứng dụng phân ủ từ bùn thải thủy sản như một loại giá thể trồng cây kiểng, góp phần tái sử dụng hiệu quả nguồn chất thải hữu cơ này thay vì được xử lý bằng phương pháp chôn lấp như hiện nay.

Từ khóa: Bùn thải thủy sản, compost, cây dương xỉ, thí nghiệm chậu vại, BIMA®

Effects of aquaculture sludge compost from wastewater treatment facility in seafood processing area on the growth and development of Polypodium sp.

Nguyen Ngoc Phi1*, Nguyen Minh Khanh, Ka Hinh2, Nguyen Thi Hanh Nguyen1, Vu Thuy Duong1, Nguyen Tan Duc1

1Biotechnology Center of Ho Chi Minh City

2Ho Chi Minh City University of Agriculture and Forestry

Sludge generated from wastewater treatment facility in seafood processing area has high organic matter content, which cannot be used directly as fertilizer for plants unless undergoing the stabilization by microbial composting method. Analysis results of pathogenic microorganisms, heavy metals and toxins (PAHs, PCBs) from aquaculture sludge show that this biosolid is quite safe for composting process. Therefore, this study has conducted at pilot scale using 2 tons of aquaculture sludge mixed with agricultural wastes such as coconut coir and cow dung following the volume ratio 5:3:2 combined with BIMA® Trichoderma spp. and Bacillus subtilis, Streptomyces spp. at dosage 4 kg/ton of raw material during 45 days, turn over every two weeks. The physical and chemical parameters such as C, N, pH, temperature and moisture are monitored periodically. Analysis results of finished compost represent that carbon (elemental) 5,48%, total nitrogen 0,4%, available P2O5 0,63%, available K2O 0,18%, pathogenic microorganisms (E. coli and Salmonella) and heavy metals (As, Pb, Cd, Hg) satisfy the requirements for organic fertilizer according to Circular No. 41/2014/TT-BNNPTNT. Pot experiment was conducted by adding from 10%, 30%, 50% and 100% (v/v) sludge compost on Polypodium sp. model in net house. There is no significant difference between sludge compost treatment and control treatment on the growth and development of plants. Results of foliage color and canopy diameter confirmed that plants still growing healthily at the rate 100% sludge compost. For further application, aquaculture sludge compost could be used as a new type substrate for ornamental plants without any negative effects instead of being wasted by landfill method.

Keywords: Aquaculture sludge, compost, Polypodium sp., pot experiment, BIMA®

Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của liều lượng phối trộn compost bùn thải thủy sản đến sự sinh trưởng của cây dương xỉ lá nhún (2017-2018)
Share:

Author: Diệu Tâm

Tư duy toàn cầu, hành động địa phương.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *